Quyền khởi kiện vụ án dân sự

Quyền khởi kiện vụ án dân sự

Quyền khởi kiện vụ án dân sự, quyền yêu cầu giải quyết việc dân sự của đương sự được quy định như sau:

Nói đến điều kiện khởi kiện thì điều đầu tiên cần nhắc đến là quyền khởi kiện. Quyền khởi kiện được chia ra cho hai nhóm, nhóm thứ nhất là khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích của chính mình, được quy định tại Điều 163 Bộ luật tố tụng Dân sự, theo đó khi cá nhân, cơ quan, tổ chức nhận thấy quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm thì có quyền khởi kiện để bảo vệ.

 

Nhóm thứ hai, là khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, được quy định tại Điều 164[1] Bộ luật tố tụng Dân sự, trong phạm vi bài viết này tác giả chỉ đề cập tới nhóm thứ nhất, không đề cập đến nhóm thứ hai.
Tóm lại, đối với Quyền khởi kiện thì điều cơ bản nhất người khởi kiện cần biết đó là khi quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có thể tự mình hoặc thông qua người khác để khởi kiện.
Ví dụ: Ngày 05/10/2012 ông A cho ông B vay 100.000.000 đồng, thời hạn vay là 01 năm, hợp đồng không đề cập đến mục đích vay tiền. Như vậy trong trường hợp này ông A chỉ có quyền khởi kiện ông B khi hết thời hạn vay theo thỏa thuận (sau ngày 06/10/2013), còn trong thời hạn vay thì ông A không có quyền khởi kiện hay nói cách khác là chưa đủ điều kiện để khởi kiện ông B.
Một điều xin quý đọc giả lưu ý là: Khái niệm quyền khởi kiện không đồng nghĩa với thắng kiện, việc thắng kiện hay không không thì cần phải thông qua quá trình giải quyết và khi có Bản án, Quyết định có hiệu lực của Tòa án mới xác định được, còn quyền khởi kiện chỉ là điều kiện ban đầu để khởi kiện.

Điều 161 Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”. Theo quy định này, quyền khởi kiện vụ án dân sự thuộc về cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền, lợi ích bị xâm hại hay tranh chấp. Các chủ thể này tự mình thực hiện quyền khởi kiện hoặc có thể thông qua người đại diện hợp pháp của mình. Thông thường, cá nhân có năng lực hành vi tố tụng dân sự và có quyền, lợi ích bị xâm hại thì tự mình khởi kiện hoặc ủy quyền cho người đại diện thực hiện việc khởi kiện nếu xét thấy cần thiết. Trường hợp cá nhân có quyền, lợi ích bị xâm hại không có năng lực hành vi tố tụng dân sự thì việc khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho họ được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của họ. Đối với các chủ thể là pháp nhân, hộ gia đình,… thì việc khởi kiện do người đại diện theo pháp luật thực hiện. Pháp luật quy định một số chủ thể đặc biệt được thực hiện quyền khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích của người khác hoặc bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước:

“Cơ quan về dân số, gia đình và trẻ em, Hội liên hiệp Phụ nữ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án về hôn nhân và gia đình trong trường hợp do Luật hôn nhân và gia đình quy định. Công đoàn cấp trên của Công đoàn cơ sở có quyền khởi kiện vụ án lao động trong trường hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động do pháp luật quy định. Cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách” (Điều 162 Bộ luật tố tụng dân sự).

Theo quy định của pháp luật, các chủ thể có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích của người khác, bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước theo quy định của pháp luật bao gồm: người đại diện hợp pháp của người có quyền, lợi ích bị xâm phạm, cơ quan về dân số, gia đình và trẻ em, Hội liên hiệp Phụ nữ, Công đoàn cấp trên của Công đoàn cấp cơ sở và cơ quan, tổ chức thực hiện chức năng quản lý nhà nước, quản lý xã hội về một lĩnh vực nhất định mà lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước cần yêu cầu Tòa án bảo vệ thuộc lĩnh vực do cơ quan, tổ chức đó phụ trách. Quyền khởi kiện của các chủ thể này được hạn chế trong phạm vi nhất định, đó là một số vụ việc về hôn nhân và gia đình, lao động và một số chủ thể đặc biệt cần phải được bảo vệ.

Quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự còn được thể hiện ở quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự. Đương sự có thể yêu cầu Tòa án xác định một sự kiện pháp lý nào đó, công nhận hoặc không công nhận các quyền, nghĩa vụ về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *